Đăng ký | Đăng nhập
   
  Tin tức - sự kiện 

GS. Peter Rodenberg (Đức) trao đổi nghiệp vụ báo chí tại Hoc viện

Nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Học viện Báo chí và Tuyên truyền với Viện Fes (Đức), vừa qua GS.TS Peter Rodenberg - giảng viên khoa Truyền thông và nghiên cứu văn hóa Mỹ tại Đại học Tổng hợp Hamburg, Đức đã có một số buổi trao đổi nghiệp vụ với giảng viên Khoa Báo chí và giảng dạy báo chí cho sinh viên Học viện.

Trong 3 buổi nói chuyện, GS Rodenberg đã đề cập đến 3 đề tài lớn là “Đào tạo báo chí tại Đức”, “Nghề báo truyền thống đã lỗi thời – Thời đại của báo điện tử” và “Phương pháp giảng dạy và học tập tích cực”.

 Giảng viên và sinh viên Khoa báo chí trao đổi cùng GS. Peter Rodenberg

GS đã giới thiệu khá đầy đủ về phương pháp và yêu cầu đào tạo báo chí tại Đức, với 3 chương trình đào tạo độc lập, cùng nhiều lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt: 1. đào tạo nghiệp vụ phóng viên, không yêu cầu bằng cấp báo chí; 2. chương trình đào tạo tại các trường do các cơ quan truyền thông và nhà xuất bản thành lập; 3. chương trình đào tạo bậc đại học, cao học tại các trường ĐH.

 

Nói về thực trạng báo chí hiện nay trên thế giới, GS Rodenberg cho rằng “Đây là thời đại của báo điện tử” bởi “sau các cuộc khủng hoảng tín dụng và khủng hoảng công nghệ, nghề báo truyền thống thực sự đang vấp phải khó khăn”. GS đưa ra những phân tích về khía cạnh kinh tế, khía cạnh khoa học của các cuộc khủng hoảng này, đề cập đến những cách đối phó khủng hoảng của các tờ báo; chức năng mới cần có của các cơ quan báo chí trong xã hội ngày nay, và lời khuyên của ông với các cá nhân sinh viên Học viện là “Ngoài chuyên ngành chính của mình, các bạn nên học, đọc thêm một số môn như Xã hội học chính trị, Kinh tế học, Nghệ thuật; … chủ động học hỏi cách tự bố trí bài báo, lấy tư liệu cho bài báo như ảnh, video… Hãy tò mò, ham hiểu biết. Hãy giữ lại những giá trị cốt lõi và chức năng xã hội của nghề báo”.

 “Các bạn sinh viên hãy cố gắng giữ lại những giá trị cốt lõi và chức năng xã hội của nghề báo“

 

Vấn đề thứ 3 “Phương pháp giảng dạy và học tập tích cực” – GS đã đưa ra những yêu cầu, mục tiêu và cách thức khá cụ thể mà phương pháp này yêu cầu. Yêu cầu đối với sinh viên là: Khi đã có được gợi ý khung (Scaffolder)à Tự đặt ra đề tài tranh luận, bàn thảo (Negotiation units) à Tự thực hiện khóa luận (Disertations). Vai trò của người thầy sẽ giảm, còn sinh viên phải cam kết học tập và thể hiện rõ vai trò của mình hơn.

Sự thay đổi vai trò của người dạy và người học khi thực hiện phương pháp học tập tích cực 

Việc thay đổi vai trò này là một thách thức đối với cả hai phía. Ngoài ra, đây cũng là phương pháp đòi hỏi nguồn đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng, thư viện, hệ thống internet, dữ liệu tra cứu dành cho giảng viên và sinh viên.

Chia sẻ bên lề với phóng viên Website về phương pháp giảng dạy và học tập này, GS Peter Rodenberg cho rằng: Tại Việt Nam (GS đã từng đến Việt Nam 3 lần và giảng dạy về phim tài liệu tại ĐH Sân khấu Điện ảnh), giảng viên hơi xa cách với sinh viên. Thêm nữa, lượng kiến thức càng càng phát triển và biến đổi, không chỉ sinh viên mà giảng viên cũng cần liên tục học hỏi để đạt được những kiến thức mới. Đôi khi sự thiếu kinh nghiệm, những câu hỏi ngây thơ của sinh viên lại dấy lên những vấn đề mới, mở ra nhiều kía cạnh lí thú.  Giảng viên cần hòa đồng, sát cánh với sinh viên nhiều hơn.  Đối với sinh viên Việt Nam, việc học tập này cũng găp phải nhiều thách thức từ văn hóa truyền thống, tuy nhiên, với chúng ta cần dần dần học cách đặt ra các nghi vấn trong quá trình học và tự khám phá câu trả lời do người thầy chỉ đưa ra gợi ý thay vì cung cấp câu trả lời cuối cùng. GS. Rodenberg hi vọng các giảng viên và sinh viên thấy những thông tin ông cung cấp bổ ích. Với tư cách nhà nghiên cứu, ông cũng rất mong lắng nghe những ý kiến đóng góp, trao đổi từ phía người nghe. GS cũng cho biết sẽ đề xuất với lãnh đạo Học viện về những cơ hội hợp tác thêm nữa trong thời gian tới.

Bích Ngọc

Mời bạn đọc tham khảo hai bài giảng của GS. Peter Rodenberg (Nguồn: Khoa Quan hệ công chúng và Quảng cáo - www.pr-quangcao.edu.vn )

Bài 1: Đào tạo nghề báo ở Đức

Lịch sử nghề báo

Khái niệm nghề  báo chuyên nghiệp được biết tới từ thế  kỷ 17 và có mối liên hệ chặt chẽ  tới khái niệm “công cầu” – một khái niệm rộng về việc trao đổi thông tin tại các lĩnh vực về chính trị, xã hội và kinh tế. 

Vào năm 1456, nhà  phát minh Johannes Gutenberg đã phát minh ra chiếc máy đánh chữ cầm tay. Chính phát minh này của ông đã  đánh dấu một mốc thay đổi lớn trong lịch sử ngành báo với sự ra đời của sách in. Các tạp chí  ra đời sau đó ít lâu với ấn phẩm đầu tiên là tờ “Mercurius Gallobelgicus” bằng tiếng Latin được xuất bản vào năm 1594 tại Cologne, Đức. Tuy nhiên, trào lưu xuất bản tạp chí lại xuất hiện ồ ạt tại Anh khởi đầu với tờ Oxford Gazette (sau này là “London Gazette” vẫn tồn tại cho tới ngày nay) vào năm 1665 và sau đó vào năm 1702, tờ nhật báo đầu tiên Daily Courant ra đời. Cùng lúc đó, chính phủ Anh đã ra luật Báo chí, yêu cầu các nhà xuất bản phải ghi rõ địa chỉ và tên dưới mỗi tác phẩm in ấn. 

Mặc dầu có  một khởi đầu từ khá sớm nhưng việc  đào tạo nghề báo lại mới chỉ bắt đầu. Trước đây, các nhà báo mới vào nghề thường học nghề theo cách rút kinh nghiệm từ những người đi trước – phương thức đào tạo giống như đào tạo những người thợ thủ công tại các xưởng dệt. 

Trên thực tế, mãi cho tới những năm đầu tiên của thế kỉ 20 những trường đào tạo nghề báo đầu tiên mới ra đời và Mỹ là quốc gia dẫn đầu trong việc đào tạo nghề này với trường Báo chí Missouri được thành lập vào năm 1908, trực thuộc trường Đại học Missouri. Vào năm 1916, Học viện Khoa học báo chí trực thuộc địa học Leipzip, Đức mới được thành lập.  

Ngày nay, tại  Đức, chúng tôi có một hệ thống 3 chương trình đào tạo nghề báo song song, đó là:

1. Đào tạo phóng viên thông qua học việc, không yêu cầu bằng cấp

2. Các trường đào tạo báo chí tự do các công ty truyền thông hoặc các nhà xuất bản thành lập. Hệ thống giáo dục này cũng chủ yếu yêu cầu học viên có các kĩ năng trong nghề và một chút đào tạo chính thống.

3. Các trường đại học báo chí yêu cầu học viên đạt được đầy đủ các yêu cầu về nghiên cứu khoa học và được đào tạo ở cấp bậc đại học.

Có thể các bạn sẽ thắc mắc tại sao lại phân ra thành 3 chương trình đào tạo mà không thống nhất thành một chương trình duy nhất. Thứ nhất, ở các nước phương Tây, báo chí là một trong những quyền lực quản lý xã hội (quyền lực thứ 4). Quyền tự do ngôn luận luôn được đề cao, cho phép mỗi công dân đều có quyền in ấn và xuất bản các ấn phẩm theo quan điểm của riêng mình. Thứ hai, mặc dù nghề báo cũng yêu cầu được đào tạo bài bản theo chương trình đại học nhưng một trong những yêu cầu thiết yếu để trở thành một phóng viên giỏi là năng khiếu. 

Đào tạo qua thực tiễn

Chúng ta hãy cùng bắt đầu với chương trình đào tạo qua thực tiễn, mỗi tờ báo hay các nhà sản xuất lớn đều có các chương trình đào tạo thực tập viên với hy vọng chiêu mộ được các nhân tài trẻ làm việc cho mình. Các chương trình đào tạo thường kéo dài từ 2 tới 3 năm, trong thời gian này các học viên sẽ làm việc và học tập dưới sự giám sát của một nhân viên trong công ty. Qui trình đào tạo phổ biến nhất là các học viên sẽ giành nửa thời gian đầu để làm việc ở tất cả các bộ phận khác nhau sau đó – trong nửa thời gian cuối, họ sẽ được lựa chọn làm việc ở một bộ phận nhất định. 

Cho tới những năm 1980, các chương trình đào tạo thực tập viên theo kiểu này sẽ được bắt đầu ngay sau khi các học viên tốt nghiệp trung học, tuy nhiên ngày nay chương trình này lại yêu cầu các học viên phải là sinh viên đại học năm thứ 2 hoặc thứ 3. Các thí sinh theo học các chuyên ngành nhân văn, xã hội, khoa học chính trị, kinh tế hoặc một số ít bao gồm cả các sinh viên chuyên ngành tự nhiên sẽ được lựa chọn để tham gia chương trình này. Nói cách khác, các thực tập sinh ngành báo tại Đức phải là những sinh viên sắp tốt nghiệp từ các trường đại học. 

Đào tạo qua các trường tư thục

Ngoài chương trình đào tạo trên, sinh viên vẫn còn cơ hội được đào tạo các kĩ năng nghề báo thông qua các trường tư. Những trường đào tạo này được đầu tư bởi ngành công nghiệp báo chí. Trước đây, những trường này thường chỉ đào tạo chuyên ngành báo in nhưng ngày nay, với sự phát triển rầm rộ của báo mạng, các chương trình đào tạo cũng được đa dạng hóa với các kĩ năng cơ bản về báo hình, báo phát thanh và báo mạng. 

 

Đào tạo qua các trường đại học

Thực tiễn đã chứng minh rằng những nhà báo, nhà biên tập xuất sắc nhất đều xuất thân từ các trường đại học báo chí. Đối với cả chương trình đào tạo trước và sau đại học, chất lượng đào tạo nghề báo tại các trường đại học vẫn là tốt nhất. Tại đây, các sinh viên sẽ có cơ hội phát triển các kĩ năng nghề nghiệp đồng thời trau dồi thêm kiến thức về mọi mặt của cuộc sống và mọi yếu tố để trở thành một nhà báo giỏi. Hiện nay, xã hội đòi hỏi các nhà báo là chuyên gia “giải mã” được các sự kiện phức tạp theo ngôn ngữ có thể khiến đa số người dân thường hiểu được. 

Trong những mục tiếp theo, tôi sẽ giới thiệu qua về các chương trình học của sinh viên báo chí. Qua đó, các bạn sẽ có được khái niệm chung về nghề báo. Tại mỗi trường đại học, các sinh viên lại được tiếp nhận những chương trình đào tạo khác nhau, tuy nhiên các sinh viên báo chí đều phải tham gia môn học chung – gọi là “Publizistik” trong tiếng Đức có nghĩa là môn “Khoa học xã hội” – với nội dung phổ biến các kiến thức căn bản về tâm lý học và kinh tế. 

Nghiên cứu về  truyền thông đại chúng

Trong các nghiên cứu về truyền thông, truyền thông đại chúng là một chuyên ngành đối lập với truyền thông cá nhân (VD: một cuộc nói chuyện cá nhân). Chi tiết hơn, truyền thông đại chúng bao gồm ngành Quan hệ công chúng, Quảng cáo và Internet. Đặc biệt, với sự ra đời của mạng Internet, định nghĩa về truyền thông đại chúng đã chuyển sang các chương trình tương tác giữa nhà sản xuất, các diễn viên với người xem. Trên thực tế, với mỗi hoàn cảnh cụ thể, phương pháp truyền thông đại chúng lại đóng những vai trò khác nhau. 

Lý  thuyết của truyền thông đại chúng

Thông thường, có nhiều cách tiếp cận lý thuyết về truyền thông đại chúng, như:

- Phương pháp trực tiếp: Các lý thuyết đầu tiên về khoa học truyền thông nhìn nhận phương pháp truyền thông đại chúng là cách tiếp cận duy nhất từ những nhà truyền thông tới công chúng.

- Phương pháp đa phương diện: Sau đó, người ta đã nhận thấy cách tiếp cận thẳng duy nhất đã bỏ sót quá nhiều bình diện, cách tiếp cận đa phương diện đã được áp dụng. Cách tiếp nhận này không chỉ nhìn nhận người tiếp nhận thông tin là đối tượng của hệ thống truyền thông mà còn là mục tiêu của nhiều nhân tố khác. Kết quả là các nhân tố căn bản khác của phương pháp truyền thông đại chúng đã trở nên ngày càng đa dạng. Hiện nay phương pháp truyền thông đa dạng đã trở thành cách truyền thông căn bản của các nghiên cứu về truyền thông

- Lý thuyết về  mối liên hệ giữa truyền thông cá nhân và  truyền thông đại chúng: sự tác động qua lại giữa biện pháp truyền thông cá nhân (giữa hai người hay một nhóm người) với truyền thông đại chúng (thông qua báo đài) chính là chủ đề nghiên cứu của lý thuyết này. Thêm vào đó, các nghiên cứu vẫn đang được tiến hành dưới nhiều quan điểm khác nhau đồng thời dưới sự lan rộng của các ý tưởng mới.

- Phương pháp tiếp nhận hay lý thuyết về kết quả: Phương pháp này được kết hợp bởi 3 lý thuyết khác nhau: hiệu quả truyền thông được đánh giá thông qua mức độ hài lòng của người tiếp nhận, giả thuyết của những người tiếp nhận tích cực và lý thuyết của mối quan hệ tương tác. Cách tiếp cận này được đánh giá dựa trên mức độ hài lòng của người tiếp nhận. Số lượng các kênh truyền thông được sử dụng ít hay nhiều đánh giá trực tiếp mức độ hài lòng của người tiếp nhận – đây cũng là lý do phương pháp này có tên gọi “lý thuyết về kết quả”. Đây là cách tương tác giữa người tiếp nhận truyền thông và các kênh truyền thông. Hiện nay, đây đang là phương pháp đánh giá hiệu quả truyền thông hiệu quả nhất.

- Phương pháp hệ thống: trong tương quan của thuyết kếu cấu, phương pháp này không những áp dụng được cho cá nhân mà còn cho cả hệ thống. Kết quả là các định nghĩa về “cá nhân làm báo” đã được thay thế bởi định nghĩa về “Nhà báo”.

- Xu hướng tạo dựng dựa trên ý nghĩa sâu xa con người rút ra được từ những bài học kinh nghiệm của mình. Những người theo thuyết tạo dựng cổ điển sẽ phủ nhận khả năng nhìn nhận được ý nghĩa sâu xa của con người thông qua “sự thật hiển nhiên”. Tuy nhiên, theo phương pháp này, truyền thông có thể mang lại những định nghĩa về thực tế, vì vậy khả năng nhận định thế giới của con người là hoàn toàn có thể.

- Thuyết phê  phán: Hầu hết các học thuyết trên đều bắt nguồn từ các học thuyết của 2 giáo sư Max Horkheimer and Theodore W, Adorno của trường Frankhurt. Nhiều người đã nhìn nhận lại học thuyết của Habermas về hoạt động truyền thông. Các nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa mối liên hệ chủ thể và điều kiện sản xuất: Ai sở hữu nhà xuất bản nào? Ai quản lý các phóng viên? Truyền thông ảnh hưởng tới nhận thức xã hội như thế nào? Có mối liên hệ gì giữa các công ty truyền thông và các tổ chức khác, ví dụ như một đảng phái chính trị? Học thuyết này đã chỉ trích rằng các ngành khoa học truyền thống không giải quyết các vấn đề liên quan tới xã hội mà họ đang tự cho mình quyền hành tự do được điều khiển vì mục đích của riêng mình.

 - Lý thuyết về phản nhận thức: Lý thuyết này được bắt nguồn từ các cách tiếp cận tâm lý, các yếu tố khiến cho người tiếp nhận truyền thông thay đổi quan điểm và làm giảm hiệu của truyền thông. Tâm lý con người nói chung luôn mâu thuẫn giữa những gì họ tin tưởng và những gì các phương tiện truyền thông tuyên truyền. Ví dụ như trong các cuộc bầu cử, người ta chỉ thích nghe các kênh truyền thông tuyên truyền cho đảng của mình. Tuy nhiên, lý thuyết này cũng bị phê phán vì đã bỏ qua yếu tố “tò mò” của con người. 

Các lĩnh vực nghiên cứu

Công thức Lasswell minh họa đầy đủ nhất các lĩnh vực nghiên cứu  đa dạng của truyền thông:

1. Ai nói

2. Nói gì

3. Qua kênh truyền thông nào

4. Nói với ai

5. Ảnh hưởng như thế nào

Bằng công thức này, các lĩnh vực nghiên cứu truyền thông có thể được chia ra thành:

1. Nghiên cứu trong khuôn khổ hàn lâm hay trong các tổ chức lớn

2. Nghiên cứu trong mối quan hệ công chúng

3. Nghiên cứu dựa trên nội dung truyền thông

4. Nghiên cứu dựa trên phân tích truyền thông

5. Nghiên cứu dựa trên việc sử dụng kênh truyền thông

6. Nghiên cứu dựa trên kết quả truyền thông

Nghiên cứu trong khuôn khổ hàn lâm hay trong các tổ chức lớn

Phương pháp này  được xem xét dựa trên các nhà truyền thông trong mối tương quan với tổ chức truyền thông. Câu hỏi được đặt ra là: Các phóng viên, nhân viên công chúng có quan điểm gì, động lực gì, mối quan tâm gì, phương pháp giáo dục gì? Liệu họ có hoàn toàn được tự do đưa ra ý kiến của mình không? Họ đã làm thế nào để đưa các quan điểm đó tới với công chúng? Họ quyết định như thế nào về chủ điểm và cách hiện diện của những quan điểm này? Lĩnh vực nghiên cứu liên quan tới “nghiên cứu truyền thông” được gọi là “Nghiên cứu về nghề báo và Quan hệ công chúng” 

Nghiên cứu dựa trên nội dung truyền thông

Phương pháp này liên quan tới những nội dung được truyền thông và được chia ra thành

1. Các nội dung khách quan có thể nhận thấy là gì? Các mối quan tâm về con người, xã hội và chính trị ảnh hưởng tới nội dung này như thế nào? VD: Mối liên hệ giữa sự thật và sự thật được phản ảnh qua báo chí

2. Sự tồn tại và tính chất của các kênh truyền hình thực tế. Vd:  “Simulacri” của Jean Baudrillard

3. Câu hỏi về nội dung truyền thông: tại sao lại chọn sự kiện này mà không phải là cái khác?

4. Chiến lược của các nhà sản xuất và các nhà truyền thông

5. Sự khác biệt giữa các thế hệ công chúng

Nghiên cứu dựa trên phân tích truyền thông

Phương pháp này  được xem xét dựa trên những trung gian. VD: Thứ rằng buộc vật trung gian là sự điều hòa hay các kênh truyền thông chính là giới hạn của trung gian 

Nghiên cứu dựa trên việc sử dụng kênh truyền thông

Nghiên cứu này mô  tả thành phần khán giá và động lực, chất lượng cũng như tính chất của việc sử dụng kênh truyền thông: Các mô tả về nhân khẩu học và tâm lý học nhận định được về độc giả tới đâu? Các độc giả dành bao lâu hoặc bao nhiêu phần trăm mối quan tâm cho các kênh truyền thông? 

Nghiên cứu dựa trên hiệu quả truyền thông

Phương pháp này là  một phát hiện khoa học về hiệu quả của truyền thông đại chúng. Nó nghiên cứu từng cá thể về khía cạnh vật thể và cảm xúc, đồng thời cũng nghiên cứu về quan điểm công chúng nói chung. 

Nhiều nghiên cứu về truyền thông và phương thức truyền thông đại chúng có phần khó phân biệt. Câu hỏi đạt ra là nghiên cứu nào mang tính tương tác nhiều hơn, sử dụng hiệu quả hơn trong ngôn ngữ và trong đời sống con người. 

Nghiên cứu về  phương thức truyền

Nghiên cứu này chủ  yếu xem xét về các vấn đề truyền thông công cộng. Phương pháp này đã có một nền tảng sâu rộng trên các bình diện ngôn ngữ và nhân loại học với các nghiên cứu về âm nhạc, điện ảnh… Khác với nghiên cứu truyền thông – chủ yếu dựa trên mối liên hệ giữa truyền thông đại chúng và xã hội, nghiên cứu về phương thức truyền thông lại chủ yếu dựa trên các phân tích về chất lượng truyền thông (VD: việc sử dụng âm nhạc, hình ảnh trong truyền thông). Các lĩnh vực nghiên cứu chính của phương pháp này là phân tích về truyền thông, lý thuyết truyền thông và lịch sử truyền thông. Trong suốt thời kỳ đầu, chủ đề chính của phương pháp này chính là tính mỹ thuật của phim ảnh. Ngày nay, chủ đề của phương pháp này đã được mở rộng ra các lĩnh vực về truyền thình, truyền thanh và mạng Internet 

 

Nghiên cứu về nghề báo

Các nghiên cứu này chủ yếu xem xét yếu tố về các nhà truyền thông, cơ cấu và dịch vụ truyền thông, xem xét hệ thống báo chí dựa trên lý thuyết về nghề báo bởi đây chính là một nhánh của khoa học truyền thông. Chủ điểm của phương thức này là sự tương tác giữa khoa học và thực tiễn. Kết quả là phương pháp nghiên cứu này mang tính chất kết hợp giữa thuần lý thuyết và thực tiễn. Ví dụ như trong thực tế, các sinh viên báo chí thường tìm cơ hội thực tập ở các cơ quan truyền thông. Mục đích của việc này là nhằm thực hành những gì các sinh viên đã được học trên lý thuyết với thực tế. Đây là khác biệt cơ bản nhất giữa những học viên được đào tạo chính thức tại các trường đại học và các học viên học báo thông qua chương trình thử việc.

Lĩnh vực nghiên cứu:

Lịch sử phát triển ngành báo

- Thực hành báo (nghiên cứu, kĩ năng viết bài)

- Cách phát triển tác phẩm truyền thông

- Các tính năng đặc biệt của nghề báo trong các ngành báo in, báo phát thanh, báo hình và báo mạng

- Ảnh hưởng của truyền thông tới công chúng

- Các định nghĩa về truyền thông trong xã hội (Quyền lực thứ tư)

Nhiều vấn đề của thuyết nghiên cứu này thuộc phạm vi của nghiên cứu Truyền thông. Tuy nhiên, không phải mọi nội dung của truyền thông đại chúng đều là nội dung của nghiên cứu báo chí. Nghiên cứu về báo chí khác với nghiên cứu về truyền thông bởi lẽ nó không nghiên cứu các vấn đề giải trí (VD: chương trình serie truyền hình hay các show truyền hình)

Tại Đức, nghiên cứu về Báo chí được giảng dạy tại các trường Dortmund, Eichstätt, Hamburg, LeipzigMainz. Môn học này cũng được giảng dạy như một môn khoa học thực hành tại các trường đại học. 

Mặc dù tại Đức hiện vẫn còn tồn tại một số nhỏ các nhà báo trưởng thành từ các chương trình đào tạo thử việc tuy nhiên phần lớn còn lại đều có nền tảng giáo dục về truyền thông đại chúng một cách chính thống, hoặc kết hợp cả nền tảng giáo dục này với các kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn. 

Chương trình đào tạo ngành truyền thông bậc đại học của Đại học Tổng hợp Hamburg

Đào tạo đại cương

( kỳ 1 tới kỳ 3)

Giới thiệu về  Khoa học truyền thông

(Lên lớp + thảo luận +Học kèm)

(6 tiếng/tuần)

(Thuyết truyền thông cơ bản)

(Lên lớp + thảo luận +Học kèm)

(6 tiếng/tuần) 

(Lý thuyết nghiên cứu khoa học truyền thông)

(Lên lớp + thảo luận +Học kèm)

(6 tiếng/tuần)

Khám phá

(kỳ 2 tới kỳ 4)

Các phân tích về  truyền thông và định nghĩa về phương thức truyền thông

(Thảo luận + học kèm)

4 tiếng/tuần

Lịch sử  truyền thông

(Lên lớp + thảo luận)

4 tiếng/tuần

Lý  thuyết về truyền thông và  phương thức truyền thông

(Thảo luận + học kèm)

4 giờ/tuần

Các phương thức thực hành truyền thông

(Thảo luận + học kèm)

4 giờ/tuần

Đào tạo chuyên sâu

(kỳ 3 tới kỳ 6)

Truyền thông và Văn hóa hay Truyền thông và xã hội

(thảo luận + lên lớp)

4 tiếng/tuần

Kiểm tra

(kỳ 6)

Hội thảo chuyên  đề (1 tiếng/tuần) + chuyên đề tốt nghiệp (30 trang trong 8 tuần) + Thi vấn đáp (30 phút)

 Chương trình đào tạo ngành truyền thông bậc cao học của Đại học Tổng hợp Hamburg

Khởi đầu (kỳ 1 tới kỳ 3 – tổng cộng 4 kỳ/5 kỳ)

Lý  thuyết truyền thông

4 giờ/tuần

Phim

(Lên lớp + thảo luận+ học kèm)

4 giờ/tuần

Truyền hình

(Lên lớp + thảo luận+ học kèm)

4 giờ/tuần

Đài phát thanh

(Lên lớp + thảo luận+ học kèm)

4 giờ/tuần

Báo mạng

(Lên lớp + thảo luận+ học kèm)

4 giờ/tuần

Chuyên sâu

(kỳ  3)

Phim tài liệu/ Phóng sự

(3 buổi thảo luận + học kèm)

Tổng cộng 6 giờ/tuần

Giải trí/Tiểu thuyết

(3 buổi thảo luận + học kèm)

Tổng cộng 6 giờ/tuần

Kiểm tra (kỳ  4)

Hội thảo chuyên đề (1 tiếng/tuần) + chuyên đề tốt nghiệp (80 trang trong 5 tháng) + Thi vấn đáp (45 phút)

 

Bài 2: Nhà báo bảo vệ nghề báo

                                        Nghề  báo truyền thống đã lỗi thời – Thời đại của báo điện tử

Giới thiệu: Khủng hoảng báo chí 

Đầu năm nay, khoa Báo chí trường đại học Westminster – một trong những trường đại học lâu đời nhất tại Anh, đã tổ chức một cuộc hội thảo với tiêu đề “Nghề báo trong cơn khủng hoảng”. Tại cuộc hội thảo, vấn đề đã được làm rõ: sau các cuộc khủng hoảng tín dụng và khủng hoảng công nghệ, nghề báo truyền thống thực sự đang vấp phải khó khăn. 

Trên thực tế, các số liệu cho thấy số lượng độc giả báo giấy đang ngày càng giảm, đồng thời các công ty, doanh nghiệp lại đang tìm kiếm những phương tiện quảng cáo mới và rẻ hơn báo giấy truyền thống. Thêm vào đó, giới trẻ lại ngày càng nghiêng về xu hướng sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin, đơn giản bởi đây là kênh thông tin nhanh chóng, thuận lợi và trên hết là miễn phí. Bằng việc đưa ra những cách tiếp cận và cung cấp thông tin mới, một số nhà báo và các tay viết nghiệp dư – một lực lượng độc lập trong quá trình hình thành quan điểm của nghề báo (trái với lực lượng tiên phong dẫn đầu thông qua các kênh truyền thông truyền thống) – lại gây ra khó khăn cho loại báo truyền thống. 

Nhưng phải chăng ngành báo đang thực sự gặp phải khủng hoảng hay đơn thuần đây chỉ là một trong những thay đổi khách quan của lịch sử? Trong một bài tranh luận, Andrew Calcutt đã đưa ra quan điểm rằng: các nhà xuất bản đang lợi dụng xu hướng truyền thông mới để “cắt giảm chi phí cho ngành báo truyền thống bằng cách thực hiện những sản phẩm truyền thông thay thế.” Tuy nhiên, theo quan điểm của riêng mình, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng các ứng dụng khoa học kĩ thuật hiện đại luôn vô cùng đa dạng ở bất kì ngành nghề nào. 

Trong bối cảnh phát triển theo hai trào lưu và nỗ lực cắt giảm chi phí, mối quan hệ giữa các độc giả và những người làm báo càng trở nên chặt chẽ, tuy nhiên mối quan hệ này không phải là không thể thay đổi. Trong một bối cảnh khác về kinh tế - chính trị, các độc giả và phương thức tiếp cận thông tin của họ sẽ trở thành định hướng chính cho việc phát triển ngành báo. Những kiểu định hướng đơn thuần sẽ được thay thế bởi các kiểu định hướng đa phong cách, chính điều này sẽ sản sinh ra một thế các nhà báo đa lĩnh vực. Hệ quả là chương trình đào tạo báo chí của UEL sẽ trở thành một trong những chương trình thiết thực nhất. 

Khủng hoảng – một phần của cuộc sống

Theo quan điểm lịch sử. khủng hoảng là một yếu tố không mới trong việc phát triển của báo chí hiện đại. Được thúc đẩy bởi những công nghệ hàng đầu, thông tin báo chí được hiện diện thông qua nhiều kênh đa dạng, cũng chính vì lý do này mà phóng viên phải là những con người nhanh nhạy nhất với sự phát triển của công nghệ. Sự ra đời của tạp chí vào những năm cuối thế kỉ 19 đã dỡ bỏ thế độc quyền của báo giấy khổ rộng, cùng lúc đó sự xuất hiện của báo in và phim tài liệu cũng đã thay đổi trào lưu phát triển ngành báo. Một số tạp chí kèm ảnh như “Life” hoặc “Look” đã trở thành đại diện cho trào lưu báo chí thời này. 

Vào những năm 1950, tivi đã trở nên phổ biến. Điều này thúc đẩy các phóng viên báo giấy phải viết bài kèm hình ảnh minh họa – đây chính là thời điểm nghề báo phát triển lên một cấp độ mới. Và rồi các trang web ra đời – mang lại một sự lựa chọn mới cho các nhà xuất bản: thực hiện các phiên bản điện tử của báo giấy. Như vậy nhìn chung, tại mỗi thời kỳ, ngành báo luôn tìm được cách vượt qua khủng hoảng và phát triển những kĩ năng mới. Vậy sự ra đời của nhiều kênh thông tin không đánh dấu sự kết thúc của nghề báo mà ngược lại, còn làm đa dạng thêm nghề này. Andrew Calcutt đã đúng khi nhận định rằng: “Việc phát triển mạng Internet và sự mất ưu thế của báo giấy chính thống không liên quan tới nhau.” 

Tuy nhiên, tôi cũng phải thừa nhận rằng việc phát triển công nghệ kỹ  thuật là một trong những thử thách lớn nhất đối với nghề báo chính thống so với các phát minh khác từ trước tới nay. Để nhìn nhận vấn đề thực chất của khủng hoảng nghề báo chính thống, tôi muốn đưa ra 3 câu hỏi như sau: 

1. Liệu các tranh cãi về  kinh tế có thực sự như những gì  chúng ta đang nhìn nhận về chúng không?

2. Chúng ta có thể nhìn nhận lại vai trò của mạng Internet trong thế kí 21 như thế nào?

3. Chúng ta nhìn nhận vai trò của nhà báo trong xã hội hiện đại ra sao? 

Các  tranh cãi về kinh tế 

Gần đây, Torsten Meise – một phóng viên tự do tại Hamburg, Đức đã xuất bản một số nhìn nhận của ông về tương lai của ngành báo. Tại blog cá nhân của mình, ông bầy tỏ: khủng hoảng ngành báo không phải là khủng hoảng của các nhà báo mà là khủng hoảng của các nhà xuất bản. Đồng thời ông cũng nhận định rằng nguyên nhân chính của vấn đề này là sự chậm trễ trong việc nắm bắt thị trường thông tin. Trong một bản tuyên ngôn khá kiêu khích, ông Meise kết luận các khó khăn về kinh tế của các nhà xuất bản bắt nguồn từ sự thiếu sáng tạo và chậm chạp trong việc nắm bắt tình hình. 

Với quan điểm này, chúng ta nhận thấy vấn đề chính: xã hội phương Đông đang phải chứng kiến một trào lưu phát triển tự do kết hợp với các vấn đề xã hội trong thời kì khủng hoảng kinh tế. Xuất hiện không báo trước, những khủng hoảng về vấn đề kinh tế đã thay thế các quan niệm về chính trị, xã hội và đạo đức – đánh dấu một sự thay đổi lớn trong việc thiết lập kiến trúc thượng tầng của xã hội tư bản. Theo một khía cạnh nhất định, gần đây các tranh cãi xung quanh vấn đề báo chí thường được đặt trên các bối cảnh xã hội, văn hóa… Trào lưu này được nhận thấy ở mọi công trình công cộng như bảo tàng, trường học, dịch vụ truyền thông hay ở những lịch vực “văn minh hóa” xã hội. Tuy nhiên, các thay đổi này không chỉ là các vấn đề khách quan mà còn chủ yếu là do tác động có chủ ý của con người. 

Các tranh cãi về  khoa học 

Những lời biện bạch thông thường về khủng hoảng của báo chí đương thời do sự phát triển của công nghệ thông tin đơn thuần chỉ là cách xảo biện cho sự lạc hậu trong cập nhật của ngành xuất bản. Trước đây, các nhà xuất bản quản lý hoàn toàn việc truy cập thông tin của xã hội thông qua các sản phẩm truyền thông. Nếu không có đài radio, tivi hay báo giấy, độc giả sẽ không có cách nào để tiếp cận thông tin. Nhưng mọi việc đã thay đổi, trong thời đại kỹ thuật số hiện nay, chỉ cần một cú click mọi thông tin sẽ tới được với độc giả. Nói cách khác, những nhà xuất bản kiểu cũ đã mất đi thế độc quyền nhưng phản ứng của họ chỉ là đơn thuần là lo lắng. 

Nhưng liệu vấn  đề có phải hoàn toàn nằm ở những “thách thức” về mạng Internet? Không người nào sẵn sàng trả tiền cho những gì họ đọc được trên các trang web trong khi đó số lượng báo giấy lại ngày càng giảm. Tuy nhiên, theo như những trải nghiệm trong lịch sử, không có nhận định chắc chắn nào cho việc cả hai kênh truyền thông này cùng biến mất  

Vậy nhưng liệu con số thống kê về lượt truy cập các trang báo mạng có đại diện chính xác hơn con số bán ra của báo giấy về hiệu quả quảng cáo không? Tất nhiên, để lôi kéo sự chú ý của một thế  hệ độc giả mới trên mạng đòi hỏi nhiều sự  sáng tạo hơn so với các quảng cáo trên báo giấy. Vấn đề này đã được một nhà xã hội học người Mỹ - Clay Shirky – chỉ ra trong cuốn “Here Comes Everybody: The Power of Organizing Without Organizations” (Tất cả mọi người đã đến đây: sức mạnh của sự tổ chức mà không cần có thể chế tổ chức) năm 2008. Nhưng nó cần được nhìn nhận như một vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo chứ không phải một trở ngại lớn đe dọa tương lai thương mại của ngành xuất bản. 

Không phải là không có những ý tưởng mới để giải quyết vấn đề này. Cựu tổng biên tập tạp chí “Time” – ông Walter Isaacson, đã đưa ra một giải pháp hoàn toàn  mới. Ông tranh luận rằng: tồn tại song song với vấn đề mạng hóa báo giấy, nhu cầu được cập nhật các thông tin mang tính xác thực cao là không thay đổi, bởi vậy số lượng độc giả của báo giấy vẫn đang tăng. Chưa hài lòng với doanh thu quảng cáo báo giấy mang lại, ông Isaacson đặt hy vọng vào một hệ thống trả phí dễ quản lý cho phép độc giả truy cập vào những bài báo hoặc hệ thống thông tin với mức chi phí rất thấp. Để minh họa cho những lập luận của mình, ông đã dẫn chứng tới sự thành công của hệ thống iTunes và dịch vụ đọc điện tử Kindle (theo Time, số ngày 2/3, trang 25) 

Những chức năng mới 

Không chỉ ngành xuất bản cần thay đổi và sáng tạo hơn, các phóng viên, nhà báo cũng cần chuẩn bị cho trình độ mỹ thuật cao hơn. Trong thời kỳ báo chí và truyền hình trở thành một phần của truyền thông kỹ thuật số, ngành báo cần những ứng dụng mới mang tính mỹ thuật cao hơn. 

Lấy ví dụ  bằng các trang web quảng cáo, năm 2007, ông Shai – một trong những nhà thiết kế thời trang hàng đầu của Pháp đã sản xuất ra những đoạn video quảng cáo trên mạng với các chấm xanh bên trang phục của các diễn viên. Người xem có thể click chuột vào những chấm nhỏ này để mua hàng trong lúc tiếp tục theo dõi các diễn viên cởi bỏ y phục hoặc trình diễn. 

Mặc dù phương pháp này Shai đã thất bại nhưng công nghệ này đáng được ghi nhận: nó đã chuyển hướng từ công việc tường thuật đơn thuần của các nhà sản xuất sang việc “cộng tác” của người dùng. Việc kết hợp giữa đọc và xem đã chiếm ưu thế hơn so với việc đọc thông thường. Như vậy những phương cách truyền thông truyền thống đã bị buộc phải thay đổi. 

Xu hướng lựa chọn kênh truyền thông một cách phiên phiến đã dần được cải thiện với các thể loại tin tức mới, các phim tài liệu (thường ngắn nhưng được dàn dựng rất công phu và mang nhiều ý nghĩa).  

Các nhà truyền thông thường kết hợp giữa các phương pháp truyền thông cổ điển với những ứng dụng mới – tuy nhiên điều này cũng không đảm bảo được sự  tồn tại vĩnh cửu của ngành báo. 

Một trong những hệ  quả thiết yếu của các thay đổi này là khó  khăn cho các tác giả. Các tác phẩm nghệ thuật như phim truyện hay sách báo sẽ không được đón nhận theo một chiều hướng có thể đoán trước. Trong trường hợp tệ nhật, các tác phẩm này sẽ được tiếp nhận biến hóa theo những gì mắt thấy tai nghe và cả các thông tin trôi nổi của các báo lá cải. Tuy nhiên, cách truyền thông mới này cũng sẽ mang lại một cách nhìn nhận đa phương diện. Các độc giả dễ dàng lấy được thông tin qua những cú click đơn giản với nhiều kênh thông tin tốt xấu đa dạng trước khi họ có thể xem được bản gốc (trong trường hợp tác phẩm được bàn tới là một đoạn phim). 

Có lẽ cách lý giải trên cũng có phần tối nghĩa. Để làm cho rõ vấn đề chúng ta sẽ nhìn nhận đây như một lời mời với ngành công nghiệp truyền thông, các sản phẩm không thật sự thiết thực ấy vẫn được đảm bảo về tính tự do ngôn luận – chỉ đơn giản là những cú click và độc giả có thể đọc các thông tin nhảm nhí bị tách rời khỏi các tác phẩm chất lượng. 

Nhìn nhận theo một khía cạnh tích cực, đây cũng là cách tiếp nhận  được vô số thông tin đa dạng với cùng một chủ đề. Tuy nhiên, những phương thức này cũng mang lại được nguồn thu theo một cách nhạy cảm. Vì vậy, một lần nữa, những lời biện bạch rằng Internet không mang lại lợi nhuận chỉ là những xảo biện cho việc không chịu tìm tòi đổi mới. 

Quan trọng hơn nữa, nhu cầu về các công nghệ mới cũng như các phương thức truyền thông mới này chỉ có thể được cung cấp bởi những nhà báo chuyên nghiệp. Họ sẽ phải nỗ lực hơn nữa để đảm bảo tính xác thực của thông tin. Nhưng liệu ai có thể chứng minh rằng phần lớn độc giả sẽ đọc những bài báo dài lê thê với thông tin xác thực? Quan điểm của tôi đối lập với những suy nghĩ bi quan này, không phải lúc nào báo giấy cũng bị thất thế trước những phương thức truyền thông hữu hình khác (phim ảnh và truyền hình). Có một thời gian, báo giấy cũng là chủ đề chính của chủ nghĩa hoài nghi với câu hỏi về sự tồn tại của phương thức truyền thông “bất động” này. 

Mặc dù sự  ra đời của tivi có làm giảm đi một số lượng đáng kể các rạp chiếu phim nhưng Hollywood vẫn là mảnh đất màu mỡ cung cấp hàng nghìn công việc. Doanh thu của ngành công nghiệp điện ảnh Mỹ năm 2008 lên tới 9,68 tỉ USD – tăng 2 tỷ USD so với doanh thu năm 2007 (Theo Screen Daily.com, ngày 7/1/2009) 

Chức năng xã  hội của nghề báo chính thống

“Nếu như không có các nguồn thông tin đáng tin cậy, mọi chỉ trích về chế độ dân chủ đều là đúng. Sự vô dụng và tính vu vơ, tham nhũng và sự phản bội, sự hoảng sợ và các thảm họa độc nhất vô nhị sẽ ứng với bất kì người nào từ chối thực tế.” 

Những nhận định trên đã được nhà báo người Mỹ Walter Lippmann viết trong cuốn “Liberty and the News” xuất bản vào năm 1920 tại New York 9 (trang 11). Trong nhận định của ông, “sự thật” và “mối liên hệ” là hai từ khóa quan trọng nhất. Để áp dụng được hai từ khóa trên, các nhà báo cần được rèn luyện theo một cách riêng kết hợp với niềm đam mê, sự hiểu biết và một đầu óc phân tích tuyệt vời để nhận định được sự thật  phía sau cuộc sống “muôn màu” ngày hôm nay. 

Trong thời đại kinh tế hóa ngày nay, sự thật và mối liên hệ thường được thay thế bởi “tính xác thực” và “sự chân thành”, những thuộc tính sau này được đảm bảo bởi sự tham gia của các “khán giả”. Tuy nhiên nếu được nhận ra thì tầm quan trọng của các vấn đề này cũng không đi kèm với việc đánh giá cao vai trò của các nhân chứng, hay mặc dù vai trò của các nhân chứng có được đánh giá cao thì chưa chắc đã có được sự nhận định đúng đắn về các vấn đề xã hội. 

Theo một cách khác, tính chất của thông tin và độ liên hệ sâu sắc với các vấn đề xã hội chỉ là cách nhìn nhận của các phóng viên. Tôi xin phép được trích lại nhận định của Lippmann: “Nếu như sự thật chỉ đơn giản là vấn đề về sự chân thành thì tương lai sẽ trở nên đơn giản. Tuy nhiên vấn đề được đặt ra hiện nay không chỉ đơn thuần là đạo đức của người làm báo. Nó là […] kết quả của sự kết hợp phức tạo giữa nhiều vấn đề rộng lớn về bất kì mối quan tâm nào của con người.” (trích “Liberty and the News”, trang 13) 

Vì thế ngay cả vào thế kỉ 21, những nhu cầu thường nhật về báo chí còn nằm ngoài phạm vi quan sát của con người và ngoài khả năng truyền tải của các nhà báo. 

Những nhà thông dịch chuyên nghiệp 

Quay trở lại với luận điểm đầu tiên của tôi: trong bối cảnh xã hội tư bản hiện nay, đời sống công cộng đã được kết hợp giữa những lợi ích và kiểm soát về kinh tế, đồng thời xã  hội cũng đang phát triển theo một chiều hướng tách rời khỏi sự phát triển của tầng lớp bình dân. Theo luận điểm của Juergen Habermas – một nhà triết học người Đức – ranh giới giữa công cộng và riêng tư, xã hội và cá thể, hệ thống và cuộc sống thường nhật đã trở nên ngày càng mờ nhạt – tới một giới hạn mà các phân tích về sức sáng tạo của cá nhân trong công việc hầu như là không thể. 

(Tôi không muốn nói xấu việc viết blog hay các hoạt động xã hội phô trương, tuy nhiên, để so sánh những hoạt động này với định nghĩa về báo chí theo hiểu biết của tôi thì đây chỉ là những hoạt động vui chơi náo nhiệt, “đánh cắp” các ý tưởng của Andrew Calcutt. Các hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc xóa bỏ ranh giới giữa hệ thống khuôn mẫu và cuộc sống cá nhân nhưng chúng hoàn toàn không phải là vai trò của báo chí) 

Habermas kết luận rằng xã hội dân chủ chỉ có thể  phát triển được nơi mà các giá trị  chân lý cho phép người dân tham gia vào công cuộc xây dựng xã hội và đặt ra những chuẩn mực nhất  định. Nói cách khác, sự cạnh tranh giữa các chính phủ tự thân chủ yếu phụ thuộc vào niềm tin của người dân. Đối với các xã hội cân bằng và đơn thuần, các giá trị văn hóa là thiết yếu. Các nhà báo chuyên nghiệp – được đánh giá như những chuyên gia về văn hóa – là những người có thể tạo nên những giá trị thiết yếu này. 

Mở đầu bài tranh luận của mình, Andrew Calcutt viết “Để viết một bài báo về một vấn đề, các nhà báo phải kết hợp giữa vấn đề đó với nhiều vấn đề khác. Bởi vậy để miêu tả kiến thức về một mặt nào đó, các nhà báo phải đặt chúng trong mối liên hệ với nhiều kiến thức khác.” Tại luận điểm này, tôi cũng phải xin lỗi ông Andrew bởi lẽ tôi không đồng tình với ý kiến này. Tôi nhìn nhận quan điểm này của ông giống như một giấy phép cho một dịch vụ xã hội đặc biệt và cho đặc quyền của nghề báo so với các ngành khác trong xã hội. Tôi lại cho rằng các nhà báo chuyên nghiệp đóng vai trò điều hòa mối quan hệ giữa các chuyên gia về văn hóa và những người dân bình thường. Nói cách khác, bằng cách lựa chọn và truyền tải thông tin đáng giá, nhà báo là những người xóa bỏ được các trở ngại và những nhận định sai lầm trong việc dỡ bỏ ranh giới giữa những hệ thống và cuộc sống thường nhật. 

Theo các phân tích vốn được tích hợp giữa nhiều biện luận và đam mê rằng nhà báo chính thống là những con người tạo ra giá trị cho cuộc sống, công chúng có thể hiểu và nắm bắt được những giá trị văn hóa thông thường – xóa đi thế thượng phong của những phân tích chuyên sâu, khó hiểu về văn hóa. Trong cuộc đời sự nghiệp của mình, vừa với vai trò là một phóng viên truyền hình, nhà sản xuất đồng thời cũng là một giảng viên đại học, tôi luôn ý thức được vai trò quan trọng của sự tinh thông và óc phân tích tỉ mỉ đối với sự thành công của một thông dịch viên ngành báo. Trong xã hội phức tạp hiện nay, các nhà báo đang tự cho phép mình có quyền phá luật nhưng chính những hành động ấy đã khiến họ mất dần đặc quyền. Tuy nhiên, đó lại chính là những gì nghề báo yêu cầu. 

Cũng trong bài tranh luận của mình, Andrew Calcutt đã nhận định chỉ  có các phóng viên mới được trả lương đủ  để giành thời gian và công sức tìm hiểu những vấn đề xã hội phức tạp hiện nay. Nếu như không có những khoản đầu tư vào đào tạo ngành báo thì khó có thể đạt được một thế hệ các nhà báo biết phản ánh sự thật hay các vấn đề xã hội khác.  

Tuy nhiên, những thành tựu độc đáo mà các nhà xuất bản hay truyền hình đã đạt được vẫn đóng vai trò là nền tảng cho nghề báo hiện đại. Sự thật hiển nhiên là nghề báo mang hai giá trị: giá trị tinh thần xã hội và giá trị thương mại. Tuy nhiên nếu như nghề báo thỏa mãn được hết nhu cầu về thương mại thì lại không đạt được giá trị về mặt văn hóa hay truyền tải thông tin. Vì vậy để đạt được giá trị lý tưởng của ngành báo là một thử thách khó khăn trong xã hội phức tạp ngày nay. 

Kết luận: Khả  năng và tính thiết yếu phải xây dựng một thế  hệ nhà báo tốt hơn 

Bất chấp nhiều lời dự đoán về kết thúc của ngành báo chính thống, sự ra đời của các công nghệ kĩ thuật cao cũng hứa hẹn mang lại một thế hệ truyền thông mới. Vấn đề tồn tại của ngành báo chính thống không chỉ dừng lại ở sự tồn tại của khái niệm “nghề báo” mà còn là sự tồn tại của cả một xã hội. 

 

 
Bản quyền 2003-2004 Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Giấy phép số 177/GP-BC cấp ngày 29/10/2004 của Cục Báo chí-Bộ Văn hoá Thông tin